Tự kỳ thị là khi một người thuộc nhóm bị định kiến dần chấp nhận khuôn mẫu tiêu cực về nhóm mình là đúng, rồi áp nó lên chính bản thân: tự cho mình kém hơn, không xứng đáng, không nên thử. Nó khác với việc chỉ biết rằng người khác có định kiến; tự kỳ thị là khi tiếng nói của định kiến đã chuyển từ bên ngoài vào bên trong.
Hiện tượng này được nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực sức khoẻ tâm thần, nhưng xuất hiện ở mọi nhóm bị khuôn mẫu: người lớn tuổi tự nói "già rồi học làm gì", người có hình xăm tự thấy mình "không đàng hoàng", người ly hôn tự coi mình là "thất bại". Bài này giải thích khái niệm, các bước hình thành, dấu hiệu nhận biết, và những cách đã được nghiên cứu để giữ lòng tự trọng.
Từ kỳ thị xã hội đến tự kỳ thị
Nhà xã hội học Erving Goffman trong cuốn Stigma (1963) mô tả kỳ thị là một dấu hiệu khiến người mang nó bị xã hội coi là "kém giá trị", từ một người trọn vẹn thành một người bị trừ điểm. Ông phân biệt người mà dấu hiệu đã lộ ra (ai cũng thấy, như một khuyết tật) với người mà dấu hiệu có thể bị phát hiện (như một tiền sử bệnh, một quá khứ), và chỉ ra rằng nhóm thứ hai phải liên tục quản lý thông tin về bản thân: giấu ai, kể với ai, kể lúc nào.
Tự kỳ thị nảy sinh khi những thông điệp của xã hội không chỉ được nghe thấy mà còn được tin. Một người lớn lên trong môi trường liên tục nói rằng nhóm của họ thế này thế kia, dần dần có thể coi đó là sự thật về chính mình. Lúc đó, kỳ thị không còn cần người khác đứng ra thực hiện; người mang nó tự hạn chế mình, tự từ chối cơ hội trước khi ai đó kịp từ chối.
Điều đáng buồn là tự kỳ thị thường gây hại nhiều hơn kỳ thị bên ngoài, vì nó luôn có mặt, không có lúc nghỉ. Một người hàng xóm nói lời khó nghe thì còn có lúc về nhà; một tiếng nói bên trong thì đi theo cả ngày. Đó là lý do việc nhận ra và gỡ tự kỳ thị đáng được quan tâm như gỡ định kiến của người khác.
Tự kỳ thị hình thành qua các bước
Các nhà nghiên cứu về sức khoẻ tinh thần mô tả tự kỳ thị như một chuỗi bước nối tiếp. Hiểu chuỗi này giúp thấy rằng có thể dừng nó ở bất kỳ mắt xích nào:
- Biết: người đó biết có khuôn mẫu tiêu cực về nhóm mình. Ai cũng biết, nên bước này chưa gây hại.
- Đồng ý: người đó bắt đầu tin khuôn mẫu ấy đúng với nhóm của mình nói chung.
- Áp vào mình: người đó tin khuôn mẫu đúng với chính bản thân: "mình cũng vậy".
- Tổn thương: lòng tự trọng và niềm tin vào khả năng của mình giảm xuống.
- Rút lui: người đó thôi thử những việc có thể làm được, vì nghĩ "người như mình thì thử làm gì".
Bước cuối được một số nhà nghiên cứu gọi là hiệu ứng "thử làm gì": người ta không theo đuổi việc làm tốt hơn, không đi học thêm, không xin cơ hội, không phải vì bị cấm, mà vì đã tin trước rằng mình không xứng. Nhiều cơ hội mất đi ở bước này hơn ở bất kỳ lời từ chối nào từ bên ngoài.
Những dấu hiệu của tự kỳ thị
Tự kỳ thị thường nói bằng giọng của chính mình, nên khó nhận ra. Một số dấu hiệu thường gặp trong suy nghĩ và lời nói:
- Dùng khuôn mẫu về nhóm mình để giải thích thất bại của bản thân: "người như mình thì làm sao được".
- Từ chối cơ hội trước khi thử, với lý do gắn với nhãn: "chỗ đó không dành cho người tuổi mình", "người ta không nhận người như mình đâu".
- Cảm thấy xấu hổ về một phần con người mình mà không làm hại ai: giọng nói, quê quán, ngoại hình, hoàn cảnh gia đình.
- Giấu mình kỹ đến mức mệt mỏi, luôn canh để không ai biết điều đó.
- Thấy mình phải cố gắng gấp đôi người khác để "bù" cho nhãn của mình, và không bao giờ thấy đủ.
- Né những người cùng nhóm, vì không muốn bị gắn với họ.
- Đồng tình khi người khác chê nhóm mình, kể cả khi trong lòng thấy không đúng.
Một hai dấu hiệu thỉnh thoảng xuất hiện là chuyện bình thường của người sống trong môi trường có định kiến. Khi chúng thành thói quen, chi phối các quyết định quan trọng, là lúc nên chủ động làm việc với chúng.
Vì sao định kiến bên ngoài có thể không làm giảm lòng tự trọng
Jennifer Crocker và Brenda Major (1989) đưa ra một phát hiện đi ngược trực giác: nhiều nhóm bị kỳ thị không có lòng tự trọng thấp hơn nhóm khác, dù phải chịu định kiến. Hai bà đề xuất một số cơ chế bảo vệ, trong đó nổi bật là khả năng quy kết đúng: khi bị đối xử tệ, nếu người ta nhận ra đó là do định kiến của người kia, chứ không phải do mình kém, thì lòng tự trọng được che chắn.
Cơ chế thứ hai là so sánh trong nhóm: thay vì so mình với nhóm đang có lợi thế, người ta so với những người có hoàn cảnh giống mình, và thấy mình ổn. Cơ chế thứ ba là chọn lĩnh vực để đánh giá bản thân: coi trọng những mặt mình làm tốt, bớt coi trọng những mặt mà khuôn mẫu đang nhắm vào.
Tự kỳ thị chính là khi những cơ chế bảo vệ này bị vô hiệu: người ta không còn quy kết cho định kiến của người khác mà quy cho bản thân, không còn so với nhóm mình mà so với khuôn mẫu. Vì thế cách gỡ tự kỳ thị thường đi theo hướng khôi phục chúng. Nhận ra "đây là định kiến của họ, không phải sự thật về mình" là bước đầu tiên và quan trọng nhất.
Những cách giữ lòng tự trọng
Tách khuôn mẫu khỏi bằng chứng. Viết ra khuôn mẫu đang làm mình nặng lòng, rồi viết bên cạnh những việc cụ thể mình đã làm được trái với nó. Khi khuôn mẫu chỉ ở trong đầu, nó có vẻ to lớn; khi nằm trên giấy cạnh bằng chứng, nó lộ ra là một khái quát.
Tìm người cùng hoàn cảnh. Gặp gỡ, trò chuyện với những người cùng nhóm đang sống tốt giúp thấy rằng khuôn mẫu không phải định mệnh. Các nhóm hỗ trợ đồng đẳng, nơi người ta chia sẻ kinh nghiệm, được nhiều nghiên cứu ghi nhận là có ích.
Kể với người tin cậy, theo nhịp của mình. Với những dấu hiệu có thể giấu được, không có công thức chung về chuyện kể hay giữ kín. Kể với một vài người đáng tin, vào lúc mình sẵn sàng, thường giảm gánh nặng phải giấu hơn là giữ kín hoàn toàn hoặc kể với tất cả.
Đổi cách nói về chính mình. Để ý những câu "người như mình…" và đổi thành câu về việc cụ thể: "mình chưa học cách này, mình sẽ học". Ngôn ngữ dùng hằng ngày dần dần định hình cách mình nhìn mình.
Thử một việc nhỏ đã từng né. Hiệu ứng "thử làm gì" được gỡ tốt nhất bằng hành động nhỏ: đăng ký một lớp học ngắn, gửi một hồ sơ, hỏi một câu trong cuộc họp. Mỗi lần thử là một bằng chứng mới chống lại tiếng nói bên trong.
Một tình huống giả định: người mẹ đơn thân đi xin việc
Chị Hằng, nhân vật giả định, ba mươi tám tuổi, một mình nuôi con sau khi ly hôn. Chị có kinh nghiệm kế toán nhiều năm nhưng đã nghỉ một thời gian. Khi thấy tin tuyển dụng một vị trí phù hợp, chị nghĩ ngay: "Người ta đâu nhận mẹ đơn thân, lại có tuổi, con nhỏ, hay phải xin nghỉ." Chị không nộp hồ sơ.
Trong suy nghĩ ấy có cả bốn bước của tự kỳ thị: chị biết có khuôn mẫu về mẹ đơn thân và người có tuổi, chị tin nó đúng, chị áp nó vào mình, và chị rút lui. Không nhà tuyển dụng nào từ chối chị; chính chị đã từ chối trước. Có thể nhà tuyển dụng ấy cũng có định kiến, nhưng chị sẽ không bao giờ biết.
Một người bạn giúp chị viết ra những gì chị đã làm được: mười năm làm kế toán không sai sót lớn, tự học được phần mềm mới trong thời gian nghỉ, sắp xếp được việc nhà và việc học của con. Bạn chị hỏi: "Nếu một người khác có hồ sơ y vậy, cậu có khuyên họ nộp không?" Phép thử đảo vai áp vào chính mình giúp chị thấy khoảng cách giữa khuôn mẫu và thực tế. Chị nộp hồ sơ. Kết quả thế nào không quan trọng bằng việc chị đã thôi để khuôn mẫu quyết định thay mình.
Tự kỳ thị khác khiêm tốn và biết mình ở chỗ nào
Có người lo rằng gỡ tự kỳ thị nghĩa là phải tự tin thái quá, không nhận mình có giới hạn. Không phải vậy. Biết mình chưa giỏi một việc, cần học thêm, là sự tự biết mình lành mạnh. Tự kỳ thị khác ở chỗ lý do của giới hạn: người tự biết mình nói "mình chưa học phần này", người tự kỳ thị nói "người như mình thì không học được".
Câu thứ nhất gắn giới hạn với một kỹ năng cụ thể và để ngỏ khả năng thay đổi. Câu thứ hai gắn giới hạn với nhãn nhóm và đóng cửa luôn. Một phép thử đơn giản: nếu lý do mình không làm được một việc vẫn đứng vững khi bỏ đi nhãn tuổi, giới, quê quán, hoàn cảnh, thì đó là đánh giá thật về kỹ năng. Nếu lý do biến mất khi bỏ nhãn đi, đó là khuôn mẫu đang nói.
Phân biệt này giúp gỡ tự kỳ thị mà không rơi vào cực ngược lại. Bạn không cần tin rằng mình làm được mọi thứ; chỉ cần thôi tin rằng cái nhãn quyết định mình làm được gì.
Khi nào nên tìm chuyên gia
Tự kỳ thị không phải là bệnh, và nhiều người tự gỡ được với sự hỗ trợ của người thân, bạn bè. Nhưng khi cảm giác xấu hổ, vô giá trị kéo dài nhiều tuần, khi bạn mất ngủ, chán ăn, không còn hứng thú với những điều từng yêu thích, khi bạn thu mình khỏi mọi người, hoặc khi có ý nghĩ làm hại bản thân, đó là lúc nên tìm gặp chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ.
Với những người mà nhãn bị kỳ thị chính là một vấn đề sức khoẻ tinh thần, như từng trầm cảm, từng điều trị tâm lý, tự kỳ thị còn có thể khiến họ ngại tìm lại sự giúp đỡ khi cần. Các nghiên cứu về kỳ thị sức khoẻ tâm thần ghi nhận đây là một rào cản lớn với việc điều trị. Nếu bạn ở trong trường hợp này, nhớ rằng tìm sự giúp đỡ là một hành động chăm sóc bản thân, cũng như đi khám khi bị đau.
Người thân có thể giúp bằng cách lắng nghe không phán xét, không vội khuyên "nghĩ tích cực lên", và nếu cần thì cùng người đó tìm hiểu nơi có dịch vụ tư vấn tâm lý đáng tin. Sự hiện diện bình thản của một người không coi mình là "kém" đôi khi là bằng chứng mạnh nhất chống lại tiếng nói tự kỳ thị.
Câu hỏi thường gặp
Tự kỳ thị có giống tự ti không?
Gần nhau nhưng khác ở nguồn gốc. Tự ti có thể đến từ nhiều nguyên nhân cá nhân. Tự kỳ thị cụ thể là việc nhận khuôn mẫu tiêu cực về nhóm mình thuộc về rồi áp lên bản thân. Phân biệt này quan trọng vì cách gỡ tự kỳ thị đi qua việc nhận ra đó là định kiến xã hội, không phải sự thật cá nhân.
Người có địa vị cao có bị tự kỳ thị không?
Có thể, nếu họ thuộc một nhóm bị khuôn mẫu ở một mặt nào đó, như tuổi, giới, quê quán hay một tiền sử bệnh. Thành công ở mặt này không tự động che chắn mặt kia. Có người rất thành đạt vẫn giấu kỹ một phần con người mình vì sợ bị nhìn khác.
Có nên khuyên người tự kỳ thị "đừng nghĩ vậy nữa" không?
Lời khuyên ấy thường không giúp được nhiều, vì người đó đã nghe khuôn mẫu cả đời. Hữu ích hơn là cùng họ nhìn vào bằng chứng cụ thể, giới thiệu những người cùng hoàn cảnh đang sống tốt, và thể hiện bằng hành động rằng mình không nhìn họ qua cái nhãn.
Che giấu một phần con người mình có phải luôn xấu không?
Không. Quyết định chia sẻ hay giữ kín thông tin cá nhân là quyền của mỗi người, và có những hoàn cảnh giữ kín là lựa chọn an toàn. Vấn đề chỉ nảy sinh khi việc giấu trở nên quá mệt mỏi, hoặc khi nó xuất phát từ niềm tin rằng phần ấy của mình là đáng xấu hổ.
Cha mẹ có thể giúp con tránh tự kỳ thị thế nào?
Nói với con về khác biệt một cách bình thản, không coi đặc điểm của con là điều cần giấu, giúp con nhận ra khi người khác nói điều không công bằng là do định kiến của họ. Không so sánh con với người khác, không chấm điểm con theo khuôn mẫu, và cho con thấy hình mẫu những người giống con đang sống tốt.