Nội nhóm là nhóm mình thuộc về (gia đình, quê, trường, công ty, đội bóng); ngoại nhóm là những nhóm mình không thuộc về. Thí nghiệm nhóm tối thiểu của Henri Tajfel đầu thập niên 1970 cho thấy chỉ cần chia người thành hai nhóm theo một tiêu chí vu vơ, không có lịch sử, không tranh giành, không quen biết nhau, là họ đã bắt đầu ưu ái nhóm mình khi chia phần thưởng.
Phát hiện ấy làm thay đổi cách hiểu về định kiến: nó không cần một mối thù có sẵn để nảy sinh, chỉ cần một đường kẻ chia "chúng ta" với "họ". Bài này kể lại thí nghiệm, giải thích điều nó chứng minh và chưa chứng minh, rồi bàn những cách đã được nghiên cứu để làm đường kẻ ấy bớt cứng.
Thí nghiệm nhóm tối thiểu diễn ra thế nào
Trong các thí nghiệm được công bố năm 1971, Tajfel và cộng sự mời các nam sinh tuổi thiếu niên ở Bristol (Anh) tham gia. Ở một phiên bản, các em xem các bức tranh trừu tượng của hai hoạ sĩ Paul Klee và Wassily Kandinsky rồi nói mình thích tranh nào hơn. Ở phiên bản khác, các em ước lượng số chấm trên màn chiếu. Sau đó các em được báo là thuộc "nhóm thích Klee" hay "nhóm thích Kandinsky", "nhóm ước lượng cao" hay "nhóm ước lượng thấp". Thực tế việc chia nhóm có khi là ngẫu nhiên.
Mỗi em ngồi riêng và chia điểm (quy ra tiền nhỏ) cho hai người khác chỉ được ghi bằng mã số và tên nhóm. Các em không biết ai là ai, không gặp nhau, và không được nhận phần nào từ việc chia của chính mình. Điều kiện được thiết kế để gần như không có lý do gì để thiên vị.
Kết quả là các em vẫn thiên vị người cùng nhóm một cách nhất quán. Đáng chú ý hơn, khi được chọn giữa phương án cho nhóm mình nhiều hơn về con số tuyệt đối và phương án cho nhóm mình ít hơn nhưng hơn nhóm kia một khoảng lớn hơn, nhiều em chọn phương án sau. Các em sẵn sàng hy sinh một phần lợi ích để giữ khoảng cách hơn thua. Đó là lý do thí nghiệm được gọi là "tối thiểu": điều kiện tối thiểu để có nhóm đã đủ để sinh thiên vị.
Vì sao con người cần nhóm đến vậy
Để hiểu vì sao một cách chia nhóm vu vơ cũng khơi được thiên vị, nên nhìn vào nhu cầu nền của con người. Roy Baumeister và Mark Leary (1995) tổng hợp nhiều bằng chứng cho thấy nhu cầu được thuộc về là một động cơ cơ bản: con người cần những mối quan hệ ổn định và cảm giác được chấp nhận trong một tập thể. Thuộc về một nhóm mang lại sự an toàn, sự giúp đỡ, và một câu trả lời cho câu hỏi "mình là ai".
Marilynn Brewer (1991) bổ sung bằng thuyết phân biệt tối ưu: con người cùng lúc muốn hoà vào nhóm và muốn khác biệt. Một nhóm vừa đủ lớn để thấy mình không lạc lõng, vừa đủ riêng để thấy mình đặc biệt, là nhóm người ta gắn bó nhất. Đó là lý do bản sắc quê huyện, khoá học, câu lạc bộ thường khơi cảm xúc mạnh hơn những nhãn quá rộng.
Các nhu cầu này không xấu; chúng là nền của tình làng nghĩa xóm, của tinh thần đồng đội. Vấn đề nảy sinh khi cách nhanh nhất để thoả nhu cầu "được thuộc về" là dựng một ngoại nhóm để cùng đứng đối diện. Nhóm nào cũng có thể tìm thấy sự gắn kết theo cách khác: cùng làm một việc có ý nghĩa, cùng chăm lo cho thành viên, cùng giữ một truyền thống, mà không cần đến một "bọn kia".
Thí nghiệm này chứng minh gì, và chưa chứng minh gì
Nó chứng minh rằng phân loại thành nhóm tự nó đã đủ để kích hoạt thiên vị nội nhóm, không cần xung đột lợi ích hay lịch sử thù oán. Phát hiện này là nền móng cho thuyết bản sắc xã hội của Tajfel và Turner (1979): một phần lòng tự trọng gắn với nhóm, nên ta có động cơ để nhóm mình trông tốt hơn.
Nó chưa chứng minh rằng con người tự nhiên ghét ngoại nhóm. Marilynn Brewer, trong một bài tổng quan năm 1999, phân biệt rõ hai thứ: ưu ái nhóm mình (yêu nội nhóm) và thù ghét nhóm khác (ghét ngoại nhóm). Phần lớn bằng chứng từ các thí nghiệm nhóm tối thiểu cho thấy thứ nhất, không phải thứ hai. Ưu ái nội nhóm có thể chuyển thành thù ghét khi có thêm điều kiện: cạnh tranh, cảm giác bị đe doạ, hay khi người có ảnh hưởng thổi bùng nó lên.
Phân biệt này quan trọng trong đời thường. Nhiều thiệt thòi không đến từ việc ai đó ghét người khác nhóm, mà đến từ việc họ ưu ái người cùng nhóm: giới thiệu việc cho người cùng quê, ưu tiên cho thuê nhà người cùng trường cũ, giúp đỡ người cùng câu lạc bộ. Không ai trong đó thấy mình đang phân biệt đối xử, nhưng người ngoài nhóm thì lặng lẽ không có những cơ hội ấy.
Những biểu hiện của nội nhóm, ngoại nhóm trong đời sống
Giúp người "của mình" trước. Khi cùng lúc có hai người cần giúp, ta dễ giúp người có điểm chung với mình hơn. Điều này tự nhiên và không phải lúc nào cũng xấu, nhưng khi đặt vào việc tuyển người, cho vay, chọn người thuê nhà, nó tạo ra lợi thế có hệ thống cho một số nhóm.
Tha thứ cho người nhóm mình dễ hơn. Cùng một lỗi, người cùng nhóm được coi là "lỡ", người khác nhóm bị coi là "đúng bản chất". Ở các buổi họp tổ dân phố, ở nhóm chat lớp cũ, điều này hiện ra khá rõ khi có ai đó làm sai.
Nhóm khác "ai cũng như ai". Đây là hiệu ứng đồng nhất ngoại nhóm: thấy nhóm mình đa dạng, nhóm khác đồng nhất. Từ đó một người làm sai được coi là đại diện cho cả nhóm.
Thành viên lệch chuẩn bị xử nặng. Một số nghiên cứu cho thấy khi người cùng nhóm làm điều đáng xấu hổ, ta có khi phán xét họ nặng hơn cả người ngoài, vì họ làm "mất mặt" nhóm. Áp lực này khiến người trong nhóm ngại khác biệt, kể cả khác biệt theo hướng công bằng hơn.
Ranh giới đổi theo bối cảnh. Cùng một người, lúc này là "người cùng quê" với mình, lúc khác là "người phòng ban kia". Nội nhóm không cố định; bối cảnh nào làm nổi bật đường kẻ nào thì đường kẻ đó hoạt động. Đây vừa là rủi ro vừa là cơ hội.
Mở rộng chữ “chúng ta”: mô hình bản sắc chung
Nếu đường kẻ nhóm thay đổi theo bối cảnh, thì một cách giảm thiên vị là làm nổi bật một đường kẻ bao trùm hơn. Samuel Gaertner và John Dovidio phát triển ý này thành mô hình bản sắc nội nhóm chung: khi hai nhóm được khuyến khích nhìn mình như một phần của một nhóm lớn hơn, những người trước đây là "họ" trở thành "chúng ta", và các thiên vị dành cho nội nhóm được chuyển sang cho họ.
Ví dụ giả định: một công ty vừa sáp nhập hai chi nhánh, nhân viên hai bên gọi nhau là "bên cũ", "bên mới". Nếu ban quản lý chỉ nhắc tới hai tên cũ, đường kẻ cứng thêm. Nếu dự án đầu tiên giao cho đội trộn người hai bên, cùng chịu trách nhiệm kết quả, và thành công được ghi nhận cho cả đội, thì đường kẻ "bên cũ, bên mới" bắt đầu mờ đi. Điều này cũng giống bài học về mục tiêu chung ở trại hè Robbers Cave.
Mô hình có một lưu ý. Đòi người ta bỏ hẳn bản sắc nhóm nhỏ của mình để nhập vào nhóm lớn có thể bị cảm nhận như bị xoá, nhất là với nhóm thiểu số. Vì thế các nhà nghiên cứu đề xuất dạng "bản sắc kép": vừa là người của nhóm nhỏ, vừa là thành viên nhóm lớn. Một người có thể vừa tự hào về quê mình vừa thấy mình thuộc cùng một tập thể với đồng nghiệp từ khắp nơi.
Phân loại chéo và những cách làm đường kẻ bớt cứng
Ngoài mở rộng nhóm, nghiên cứu về quan hệ giữa các nhóm gợi ra một số cách khác có thể áp dụng trong gia đình, lớp học, nơi làm việc:
- Phân loại chéo: khi hai người khác nhau ở một đường kẻ nhưng giống nhau ở một đường kẻ khác (khác quê nhưng cùng nghề, khác tuổi nhưng cùng mê cầu lông), thiên vị theo đường kẻ đầu giảm đi. Chủ động tìm điểm chung thứ hai là một cách đơn giản.
- Cá nhân hoá: khi người ta được tiếp xúc với nhau như từng cá nhân, có tên, có chuyện riêng, nhãn nhóm mất dần vai trò. Một buổi làm quen mà mỗi người kể chuyện của mình thường có tác dụng hơn một buổi giới thiệu theo phòng ban.
- Không đặt nhóm vào thế thắng thua không cần thiết: thi đua giữa các tổ có thể tạo động lực, nhưng nếu kéo dài và phần thưởng chỉ cho một bên, nó dựng lên đường kẻ khó xoá.
- Để ý ai được ưu ái lặng lẽ: khi giới thiệu việc, chọn người cho cơ hội, tự hỏi danh sách của mình có toàn người cùng nhóm với mình không.
- Tôn trọng niềm tự hào nhóm: không cần chê nhóm của ai để gỡ thiên vị. Mục tiêu là nhiều đường kẻ cùng tồn tại mà không đường kẻ nào biến thành hàng rào.
Một tình huống giả định trong gia đình
Gia đình ông Toàn có hai người con dâu, một người cùng quê với gia đình, một người ở vùng khác. Không ai nói ra, nhưng trong các buổi họp mặt, người con dâu cùng quê được hỏi ý kiến nhiều hơn, được giao những việc "quan trọng" như lo cỗ giỗ, còn người kia được giao rửa bát và trông trẻ. Mỗi quyết định riêng lẻ đều có lý do nghe hợp lý: "con nó rành phong tục", "con kia chưa quen".
Đây là một ví dụ của thiên vị nội nhóm không cần ác ý. Người con dâu ở vùng khác có thể cảm thấy mình mãi là "người ngoài", và cảm giác đó tích lại theo năm tháng. Cách gỡ không phải là buộc tội ai, mà là thay đổi cách chia việc: lần giỗ tới, hai người cùng lo cỗ, người rành chỉ người chưa rành, và lời cảm ơn dành cho cả hai. Một thay đổi nhỏ trong cách giao việc chuyển hai người từ hai nhóm thành một đội.
Ở phía người bị coi là "ngoài nhóm", một câu nói mở lối có thể là: "Mẹ ơi, lần giỗ này con muốn phụ chị lo cỗ để học, mẹ cho con thử nhé." Câu này không trách móc, không đòi công bằng một cách đối đầu, mà mời người lớn mở rộng đường kẻ. Khi định kiến chỉ ở dạng ưu ái lặng lẽ, lời mời thường hiệu quả hơn lời phàn nàn.
Câu hỏi thường gặp
Thiên vị nội nhóm có phải là bản năng không thể thay đổi?
Xu hướng ưu ái nhóm mình có vẻ rất phổ biến, nhưng nhóm nào được coi là "mình" thì thay đổi theo bối cảnh và có thể mở rộng. Các thí nghiệm cho thấy chỉ cần đổi cách phân nhóm hoặc làm nổi bật một nhóm chung lớn hơn là mức thiên vị đã thay đổi. Nói cách khác, xu hướng có thật nhưng đối tượng của nó không cố định.
Yêu quê hương, tự hào về trường cũ có phải là định kiến không?
Không. Gắn bó và tự hào về nhóm mình là chuyện lành mạnh, là một phần của bản sắc. Nó chỉ trở thành vấn đề khi đi kèm việc hạ thấp nhóm khác, hoặc khi dẫn tới ưu ái làm thiệt người ngoài nhóm trong những việc cần công bằng như tuyển người, chấm thi, cho thuê.
Thí nghiệm nhóm tối thiểu có được lặp lại ở nơi khác không?
Hiệu ứng thiên vị nội nhóm trong điều kiện nhóm tối thiểu đã được lặp lại nhiều lần với nhiều nhóm tuổi và ở nhiều nước. Mức độ thiên vị khác nhau giữa các nghiên cứu, và có tranh luận về việc người tham gia có đoán ý người làm thí nghiệm hay không, nhưng xu hướng chung khá vững.
Làm sao biết mình đang ưu ái người cùng nhóm một cách không công bằng?
Nhìn vào kết quả thay vì ý định. Xem lại danh sách những người mình đã giới thiệu việc, mời vào nhóm, cho mượn tiền hay giúp đỡ trong năm qua: họ có giống mình ở quê quán, trường lớp, tuổi tác không? Nếu gần như toàn người giống mình, đó là dấu hiệu đáng để ý.
Có nên xoá bỏ mọi cách chia nhóm ở trường, ở công ty?
Không cần và cũng không thể. Chia nhóm giúp tổ chức công việc. Điều nên tránh là để các nhóm cạnh tranh gay gắt kéo dài, dùng nhãn nhóm để đánh giá con người, hoặc để một nhóm luôn ở vị trí thắng. Xen kẽ các đội trộn, các mục tiêu chung, sẽ giữ được lợi ích của nhóm mà bớt rủi ro.